Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

hứ Ba, ngày 16 tháng 12 năm 2014


LỊCH KIỂM TRA HỌC KỲ I. LỚP 7. NĂM HỌC: 2014-2015

LỊCH KIỂM TRA HỌC KỲ I. NĂM HỌC 2014-2015. KHỐI LỚP 7.

Thứ năm ngày 25.12.2014, các em đi học bình thường.

THỨ, NGÀY
BUỔI
MÔN THI
THỜI GIAN
Thứ 5
(ngày 18/12/2014)
Chiều
Ngữ văn
13h
Công dân
Thứ 7
(ngày 20/12/2014)
Sáng
Toán
7h
Địa
Thứ 2
(ngày 22/12/2014)
Sáng
Sinh
7h
Sử
Công nghệ
Thứ 7
(ngày 27/12/2014)
Chiều
Anh
13h
Vật lý
Tin

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

GIỚI THIỆU SÁCH TRÊN WEBLOG

  Bạn đọc thân mến!
       Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm, nhưng những kỳ tích của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, những chiến công của những người đã sống, chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc được lưu danh muôn thuở và sáng mãi trong trang sử vẻ vang của dân tộc.
     Gần 70 năm chiến đấu và xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phấn đấu, không ngừng phát huy truyền thống quân sự của đất nước.
      Ngày 22/ 12 là ngày mà cả nước cùng nhau nhớ lại công lao to lớn của những vị anh hùng, những người đã ra đi để bảo vệ Tổ quốc và giúp nhân dân ta củng cố thêm lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự cường.
     Hướng tới chào mừng 70 năm ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014) lớp 7/7 chúng tôi muốn gửi đến bạn đọc cuốn sách “Cuộc chiến Quyết tử - Hồi ký” của tủ sách Mãi mãi tuổi hai mươi, do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2006




          
      Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt người đọc là trang bìa cứng có ba màu, vừa thanh thoát, vừa nhẹ nhàng: màu xanh, màu trắng, màu cam, hòa lẫn với nhau, làm nổi bật một bức tranh màu sắc ở phía trên cùng.

       Các bạn thân mến! Chiến sĩ nước ta đã không ngại gian khổ, dũng cảm, kiên cường và những công lao to lớn ấy đã được nhà thơ Đặng Vương Hưng viết vào chương đầu tiên trong cuốn sách “ Trang viết của những người đã quyết tử cho tổ quốc quyết sinh ”. Chương I chỉ gồm có bốn trang hai tờ nhưng nội dung và ý nghĩa của nó rất sâu sắc. Đặc biệt là “ lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Bác Hồ “ Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc […] ” Tuy lời kêu gọi nhân dân đứng lên chống giặc rất bình dị nhưng chân thành, thể hiện lòng yêu nước, sự gần gũi giữa một lãnh đạo với nhân dân.
Bản thảo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh

        Tiếp đến là những chương sách nói về những cuộc chiến lớn, những câu chuyện thời chiến, những dòng nhật ký của một liệt sĩ hy sinh tại Điện Biên Phủ hay tự chuyện về cuộc đời của một cảm tử quân. Qua những câu văn, lời thơ (như dòng nhật ký thời chiến Việt Nam của Nguyễn Văn Xán “ U ăn cơm xong cũng xụt xùi ở góc giường. Lúc sắp ra đi mình định dặn U nhưng phiền nhất có bà “8” […]”) ... bạn đọc có thể cảm nhận đến những thông điệp từ các bài đã đọc trong cuốn sách, những ý nghĩ xâu xa hơn và thấu hiểu sự gian khổ của những người dám nghĩ dám làm, tự mình hi sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: xa con cái, xa đất nước, xa quê hương,…
       Hy vọng quyển sách này sẽ là tài liệu vô cùng quý báu cho đông đảo bạn đọc và sẽ để lại cho mỗi bạn đọc nhiều bài học bổ ích trong cuộc sống.
         Quyển "Cuộc chiến Quyết tử - Hồi kí " hiện có tại thư viện trường THCS Lý Tự Trọng - thành phố Tam Kỳ của chúng em.
                 Mời quí thầy cô và các bạn đón đọc!



Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014


Lịch sử hình thành ngày quân đội nhân dân Việt Nam
    Tên gọi "Quân đội Nhân dân" là do Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, ban đầu gồm 34 chiến sỹ do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung, Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng, còn Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên. Vũ khí ban đầu có 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp.

Sau khi thành lập đội đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Sau 2 trận này, quân số tăng lên thành đại đội, Hoàng Sâm làm đại đội trưởng, còn Xích Thắng làm chính trị viên.

Hồ Chí Minh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với ý nghĩa “chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là tập trung lực lượng,…Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác….Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc chí Nam, khắp đất nước Việt Nam.”

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. 

Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính qui Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. 

Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. 

Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân trong lịch sử thế giới của thế kỷ 20. 

Ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Thực chất, đây là lực lượng Vệ quốc đoàn còn ở lại Nam Việt Nam, kết hợp bộ phận tăng viện của Quân đội Nhân dân từ miền Bắc và lực lượng chiêu mộ tại chỗ, thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. 

Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội Nhân dân Việt Nam.