Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

KẾ HOẠCH TUẦN 13

          - Sáng thứ 2 tổng kết ủng hộ nạn nhân da cam/ đioxin, HS Nam Trà My, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đăng bài dự thi trên blog lớp.
          - Thứ ba, thứ tư viết báo tường.
        - Thứ bảy:+Lễ kỷ niệm 32 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.
                      + Phân công trực tuần.
                      + Hoàn thành báo tường dự thi 20.11

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

Kết quả hình ảnh cho ngày 20/10

Lịch sử ngày 20/10-Ngày Phụ nữ Việt Nam

Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng.
Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai...
Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:
- Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ.
- Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh.
- Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh.
- Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có 12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 300 xã. Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai huyện Châu Thành, Mỹ Tho, trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia.
- Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.

Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định chọn ngày 20 tháng 10 hằng năm làm ngày truyền thống của tổ chức này, đồng thời cũng xem đây là ngày kỉ niệm và tôn vinh phụ nữ Việt Nam, lấy tên là "Ngày Phụ nữ Việt Nam".

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Tiểu sử anh hùng Lý Tự Trọng 


Lý Tự Trọng lúc nhỏ tên là Lê Hữu Trọng, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1914 trên đất Xiêm (nay là Thái Lan), quê quán xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đầu năm 1926, Lê Hữu Trọng được Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Xiêm cử sang Quảng Châu(Trung Quốc) học tập. Đến Quảng Châu, anh được gặp đồng chí Lý Thuỵ( tức Nguyễn Ái Quốc) và được Người tổ chức vào nhóm thiếu niên tiền phong Việt Nam. Lê Hữu Trọng và các hội viên trong nhóm này được đồng chí Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị kế hoạch đưa sang Liên Xô học tập và Người cải tên họ là họ Lý. Lê Hữu Trọng đổi tên là Lý Tự Trọng. Sau khi được Nguyễn Ái Quốc dạy thêm về địa lý, lịch sử nước nhà, Lý Tự Trọng được Người giới thiệu vào học tiếng Trung Quốc tại trường trung học của chính phủ Tôn Trung Sơn. Do thông minh và ham học nên anh đã rút ngắn được thời gian học tập tại trường và sau đó được điều về giúp việc ở cơ quan Tổng bộ. Trong thời gian làm việc tại đây, anh đã góp phần tích cực vào việc liên lạc giữa Tổng bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội với Đảng bạn, các cán bộ cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở Trung Quốc; đồng thời tổ chức chuyển thư từ, tài liệu của Tổng bộ về nước.
Mùa Thu năm 1929, Lý Tự Trọng được điều về Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ của cách mạng ViệtNam trong tình hình mới. Về Sài Gòn, anh xin làm công nhân nhặt than tại bến Nhà Rồng với bí danh là Trọng Con. Lúc cơ quan Trung ương Đảng chuyển vào Sài Gòn, nhiệm vụ của Lý Tự Trọng vô cùng nặng nề. Anh vừa làm giao thông liên lạc giữa cơ sở Đảng trên tàu quốc tế với Xứ uỷ Nam Kỳ, vừa làm nhiệm vụ liên lạc giữa Xứ uỷ Nam Kỳ với các cấp bộ Đảng ở Sài Gòn- Chợ Lớn. Để chuẩn bị cho việc thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản, Trung uơowg Đảng giao nhiệm vụ cho Lý Tự Trọng nghiên cứu tình hình thanh niên ở Sài Gòn- Chợ Lớn.. Công việc hết sức nặng nề nhưng anh hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao. Ngày 8/2/1931, để bảo vệ cho đồng chí Phan Bôi đang diễn thuyết tuyên truyền cách mạng, Lý Tự Trọng đã bắn chết tên Thanh tra mật thám Pháp Lơ gơ răng gần sân vận động Sài Gòn. Lý Tự Trọng bị mật thám Pháp bắt. Mặc dù bị tra tấn hết sức dã man; nhưng anh không khai nửa lời. Ngày 15/4/1931, chính quyền Pháp tại Sài Gòn đã mở phiên toà Đại hình xét xử Lý Tự Trọng và anh bị kết án tử hình tuy chưa hết tuổi vị thành niên. Trong thời gian bị giam tại khám lớn Sài Gòn, bị mua chuộc dụ dỗ bằng mọi hình thức, thực dân Pháp không hề lay chuyển được ý chí sắt thép của Lý Tử Trọng. Anh luôn luôn tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng sau này. Khí phách hiên ngang của anh đã làm cho bọn cai ngục phải khâm phuc và kinh ngạc, chúng gọi anh là “Ông Nhỏ’ và ca ngợi “ thật là con người gang thép”. Tháng 11/1932, bất chấp dư luận và luật pháp, thực dân Pháp đã xử bắn Lý Tự Trọng khi anh mới 17 tuổi. Lý Tự Trọng đã anh dũng hy sinh, nhưng dũng khí đấu tranh của anh mãi mãi ghi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam. Câu nói nổi tiếng của anh được các thế hệ thanh niên Việt Nam lấy làm lẽ sống cho mình: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác”.
 Sắp tới kỷ niệm 100 năm ngày sinh anh Lý Tự Trọng, lớp 77 sẽ tham gia thi tìm hiểu tiểu sử, thi hát Quốc ca....